Home Tư vấn dinh dưỡng

Mẹ đã biết cách trị tưa lưỡi cho bé chưa?

bé bị tưa lưỡi2 Tư vấn dinh dưỡng

Câu hỏi : Bé nhà mình được gần 2 tháng, bị tưa lưỡi, vòm miệng trên, hai má và cả trong môi bé đều có đốm trắng to và loét ra. Mình cho bé đánh rau ngót thì hôm sau đốm trắng lại xuất hiện. Bé quấy khóc và rất lười bú ạ. Có cách nào để trị triệt để bệnh tưa lưỡi không? Cảm ơn rất nhiều  (Chị Thanh, Đô Lương, Nghệ An)

Trả lời:
Bố mẹ thân mến!
Hiện tượng tưa lưỡi là những màng giả màu trắng ở niêm mạc miệng, đặc biệt là mặt trên của lưỡi. Những màng này bám khá chặt vào niêm mạc, gây vướng víu và đau làm cho trẻ khó nuốt và khó chịu.

Nguyên nhân chính là do nấm Candida albicans gây ra, thường xuất hiện ở trẻ yếu, nhất là trẻ sơ sinh thiếu tháng. Cũng có khi do người mẹ bị nấm âm đạo nên trẻ sẽ nhiễm bệnh ngay sau khi chào đời.

Mầm bệnh cũng có thể đến từ đầu vú cao su, dụng cụ pha sữa. Trẻ bú xong không được vệ sinh miệng tốt, cặn sữa ứ đọng lâu ngày cũng lên men, tạo điều kiện cho nấm Candida albicans phát triển, gây tưa lưỡi.

Để trị tưa lưỡi, mọi người thường mách nhau cách quấn mảnh gạc sạch vào đầu ngón tay trỏ, tẩm vào mật ong để đánh tưa. Tuy nhiên cách làm này khiến cho trẻ đau rát vì màng giả bám chặt vào niêm mạc. Đánh xong miệng lưỡi trẻ đỏ ửng, đau rát đến nỗi sợ bú. Trong mật ong thường có độc tố của loại vi khuẩn có tên là clostridium botulium tiết ra, độc tố này độc với thần kinh cơ, gây liệt cơ. Vì vậy không nên dùng mật ong để đánh tưa.

Lấy một ít rau ngót, rửa sạch bằng nước sôi để nguội đem giã lấy nước rồi dùng khăn thấm và lau lưỡi cho bé. Tuy nhiên có hiệu quả và tác dụng chậm và thường làm miệng bé.

Tốt nhất là cho trẻ dùng nystatin – loại thuốc kháng nấm có tác dụng đặc hiệu với Candida albicans với cách dùng, bạn pha 1 gói và cốc nước ấm đánh ngày 2 lần vào buổi sáng ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ, hoặc bạn có thể dùng nước muối ấm để vệ sinh vùng miệng cho bé, mẹ nên vệ sinh đầu vú hằng ngày bằng nước muối ấm trước khi cho bé bú, tùy từng trường hợp, theo chỉ định của bác sĩ. Hoặc có thể dùng thuốc bôi dạng gel Daktarin bôi vào lưỡi cho trẻ. Cần lưu ý là khi sử dụng loại này để đánh tưa lưỡi cho bé vào lúc đói và sau đó 30 phút mới cho bé ăn.
Chúc bé ngoan hay ăn chóng lớn!

Nguyên nhân và dấu hiệu nào cho biết trẻ bị sốt xuất huyết?

Câu hỏi: Gần đây tôi có nghe mọi người nói nhiều về căn bệnh sốt xuất huyết. Không biết đối với trẻ em thì nguyên nhân gây bệnh và dấu hiệu nhận biết bệnh là gì?

Trả lời:

bệnh sốt xuất huyết1 Tư vấn dinh dưỡng

Cơ chế gây bệnh sốt xuất huyết

Sốt xuất huyết là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do siêu vi trùng tên là Dengue (Đăn-gơ) gây ra. Bệnh lây do muỗi vằn hút máu truyền siêu vi trùng từ người bệnh sang người lành. Muỗi vằn có nhiều khoang trắng ở lưng và chân, thường sống ở trong nhà, đậu trong những chỗ tối như gầm bàn, gầm giường, hốc tủ. Quần áo treo trên vách…, chích hút máu người cả ngày lẫn đêm.

Một số dấu hiệu cho thấy trẻ bị sốt xuất huyết như:

– Sốt (nóng) cao 39-400 , đột ngột, liên tục trong 3-4 ngày liền.

– Xuất huyết (chảy máu) ở nhiều dạng:

Xuất huyết dưới da: Làm lộ trên mặt da những chấm nhỏ màu đỏ, đốm đỏ hay vết bầm. Phân biệt với vết muỗi cắn bằng cách căng da chung quanh chấm đỏ, nếu chúng vẫn còn là do xuất huyết, ngược lại nếu biến mất thì đó là vết muỗi cắn.

Chảy máu cam, chảy máu chân răng, nướu răng.

Ói hoặc đi cầu ra máu (nước ói màu nâu, phân lợn cợn như bã cà phê hoặc đỏ tươi).

– Đau bụng.

– Sốc là dấu hiệu nặng, thường xuất hiện từ ngày thứ 3-6 của bệnh, đặc biệt lúc trẻ đang sốt cao chuyển sang hết sốt và có thể xảy ra kể cả khi không thấy rõ dấu hiệu xuất huyết. Dấu hiệu sốc gồm:

Trẻ mệt, li bì hoặc vật vã

Chân tay lạnh

Tiểu ít

Có thể kèm theo ói hoặc đi cầu ra máu.

Để tránh cho trẻ mắc phải bệnh sốt xuất huyết, mẹ cần phải có biện pLàmháp phòng bệnh hợp lý.

Dấu hiệu phân biệt sởi, sốt phát ban, sốt virut

Câu hỏi: Làm thế nào để phân biệt được các dấu hiệu giữa bệnh sởi, sốt phát ban, sốt virut. Khi bị sởi có nên kiêng nước, kiêng gió hoàn toàn không?

Trả lời: 

Để phân biệt được sự khác nhau giữa sởi, sốt phát ban và sốt virut, mẹ nên theo dõi vào toàn phát (tức là giai đoạn phát ban). Bởi vì đây là giai đoạn các dấu hiệu thể hiện rõ nhất.
– Sốt phát ban thông thường: sau khi giảm sốt, trẻ sẽ bị phát ban, đây là hồng ban dạng mịn và sáng, ít gồ lên mặt da, ban nổi đồng loạt khắp cơ thể của trẻ và sau khi bay thường không để lại dấu tích gì trên da trẻ.
– Phát ban do Sởi với tiến trình rất đặc trưng: lúc đầu ban xuất hiện ở sau tai, sau đó lan ra mặt, dần xuống ngực bụng và ra toàn thân. Khi ban Sởi biến mất cũng mất dần theo thứ tự đã nổi trên da. Đặc điểm ban Sởi là ban dạng sẩn (ban gồ lên mặt da), khi bay sẽ để lại những vết thâm trên da rất đặc trưng thường gọi là “vằn da hổ”. Đặc biệt trẻ bị nhiễm Sởi thường có một trong 3 triệu chứng đặc trưng đi kèm đó là triệu chứng chảy nước mũi, ho và 2 mắt đỏ.
Bệnh Sởi có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm cho trẻ nếu trẻ bệnh không được phát hiện và điều trị kịp thời, nhất là những trẻ có sức đề kháng quá kém như trẻ bị suy dinh dưỡng nặng, trẻ nhũ nhi (trẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi), trẻ đang sử dụng thuốc kháng viêm dạng corticosteroids (như prednisolone, …) liên tục và kéo dài. Những biến chứng của Sởi thường xảy ra bao gồm: viêm tai giữa cấp, viêm phổi nặng, viêm não , viêm loét giác mạc có thể gây mù lòa và suy dinh dưỡng nặng hậu nhiễm Sởi .Tránh quan niệm kiêng tắm, kiêng gió cho bệnh nhân . Cần nên tắm , rửa cho bệnh nhân bằng nước ấm , ở nơi tránh gió lùa .

 Những biến chứng của bệnh quai bị.

Câu hỏi: Tôi nghe nói bệnh quai bi nếu không có cách xử lý và chữa trị kịp thời, hợp lý thì sẽ để lại những hậu quả và biến chứng vô cùng nặng nề. Vậy những biến chứng đó là gì?

dau hieu benh quai bi Tư vấn dinh dưỡng

Bệnh quai bị để lại những biến chứng nguy hiểm

Trả lời:

-Quai bị là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, do một loại siêu vi thuộc họ Paramyxoviridae gây ra. Biểu hiện chủ yếu của bệnh là sốt và sưng, đau một hoặc nhiều tuyến nước bọt. Thường gặp ở tuyến nước bọt mang tai, đôi khi có thể viêm ở tuyến nước bọt dưới lưỡi hoặc tuyến dưới hàm trên.

Quai bị thường gặp nhiều ở trẻ em và dễ dàng lây lan. Tuy tỷ lệ tử vong do quai bị rất thấp (1/10000 trường hợp mắc) nhưng quai bị cũng có thể xảy ra một số biến chứng. Một số biến chứng thường gặp đó là:

- Viêm não – màng não: Đây là biến chứng thường gặp ở trẻ em với tỷ lệ 25%, xảy ra vào ngày thứ 3-10 sau khi viêm tuyến mang tai với các triệu chứng sốt cao, nhức đầu, ói mửa, đôi khi có co giật, một số trường hợp có biểu hiện liệt giống sốt bại liệt. Tuy nhiên, diễn tiến của viêm não-màng não quai bị thường lành tính, ít để lại di chứng sau khi hết bệnh.

- Viêm tinh hoàn: Biến chứng này hiếm gặp ở các trẻ em nhỏ trước tuổi dậy thì hoặc người lớn trên 50 tuổi, khoảng 20-30% các trường hợp gặp ở trẻ em trai trong tuổi dậy thì. Viêm tinh hoàn xuất hiện trong khoảng 7-10 ngày sau khi sưng tuyến mang tai. Phần lớn viêm tinh hoàn chỉ xảy ra ở một bên với biểu hiện sốt cao, lạnh run, nôn ói, đau bụng, dịch hoàn sưng to và đau nhức. Tình trạng này kéo dài khoảng 3-7 ngày thì giảm bớt, khoảng 30% có thể đưa đến teo tinh hoàn nhưng tỷ lệ gây vô sinh chỉ khoảng 13% mà thôi.

- Một số biến chứng khác hiếm gặp khác như viêm tụy cấp có thể tạo thành các nang giả ở tụy tạng; viêm buồng trứng với biểu hiện đau bụng, rong kinh và thường khó phát hiện hơn viêm tinh hoàn ở nam; đối với phụ nữ mang thai mắc bệnh quai bị, có thể gây sẩy thai nếu nhiễm trong ba tháng đầu của thai kỳ, sinh non hoặc thai chết lưu nếu nhiễm trong ba tháng cuối của thai kỳ.

Cơ chế lây truyền và cách xử lý khi bị đau mắt đỏ

đau mắt đỏ Tư vấn dinh dưỡng

Câu hỏi: Đau mắt đỏ là bệnh như thế nào? Bệnh lây lan như thế nào? Khi có người bị bệnh đau mắt đỏ hoặc nghi ngờ bị đau mắt đỏ thì phải xử lý ra sao?

Trả lời:

Đau mắt đỏ là loại bệnh truyền nhiễm do virus Adenovirus hoặc do vi khuẩn như liên cầu, tụ cầu, phế cầu gây ra. Bệnh thường gặp vào mùa hè đến cuối mùa thu, khi thời tiết từ nắng nóng chuyển sang mưa, độ ẩm không khí cao, khi giao mùa… 

 Bệnh đau mắt đỏ lây truyền như thế nào?

Bệnh đau mắt đỏ có thể lây qua:

- Tiếp xúc trực tiếp với người bị bệnh qua đường hô hấp, nước mắt, nước bọt, bắt tay, đặc biệt nước mắt người bệnh là nơi chứa rất nhiều virus.

- Cầm, nắm, chạm vào những vật dụng nhiễm nguồn bệnh như tay nắm cửa, nút bấm cầu thang, điện thoại; đồ vật, đồ dùng cá nhân của người bệnh như khăn mặt, chậu rửa mặt… Dùng chung đồ dùng sinh hoạt như khăn mặt, gối.

- Sử dụng nguồn nước bị nhiễm mầm bệnh như ao, hồ, bể bơi.

- Thói quen hay dụi mắt, sờ vào mũi, vào miệng.

- Bệnh viện, công sở, lớp học, nơi làm việc, nơi công cộng, trên xe buýt, tàu hỏa, máy bay…, những nơi có mật độ người đông, cự ly gần rất dễ lây bệnh.

Cách xử lý đối với những người bị bệnh hoặc nghi nhiễm bệnh

Lau rửa ghèn, dử mắt ít nhất 2 lần một ngày bằng khăn giấy ẩm hoặc bông, lau xong vứt bỏ khăn, không sử dụng lại.

- Không tra vào mắt lành thuốc nhỏ của mắt đang bị nhiễm khuẩn.

- Tránh khói bụi, đeo kính mát cho mắt.

- Những trẻ em bị bệnh nên nghỉ học, không đưa trẻ đến trường hoặc những nơi đông người trong thời gian bị bệnh.

- Khi trẻ bị đau mắt, thông thường sẽ bị một bên mắt trước, bố mẹ và người nhà cần chăm sóc trẻ thật cẩn thận, để tránh nhiễm bệnh cho mắt còn lại. Cho trẻ nằm nghiêng một bên, nhỏ mắt rồi dùng gạc y tế lau ngay ghèn, dử và nước mắt chảy ra (làm tương tự đối với người lớn).

- Tránh ôm ấp khi trẻ em bị bệnh, ngủ riêng.

- Trước và sau khi vệ sinh mắt, nhỏ mắt, cần rửa tay thật sạch bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn.

- Người bệnh cần được nghỉ ngơi, cách ly, dùng thuốc theo đơn của thầy thuốc. Không tự ý mua thuốc nhỏ mắt. Không dùng thuốc nhỏ mắt của người khác.

- Không đắp các loại lá vào mắt như là trầu, lá dâu…

- Nếu bệnh không thuyên giảm sau vài ngày phải đến ngay cơ sở y tế để được khám, điều trị.

Những thắc mắc của mẹ về bệnh sởi

dấu hiệu bệnh sởi 21 Tư vấn dinh dưỡng

1. Bệnh sởi nguy hiểm như thế nào?

Trên thế giới trước khi có vắc xin, hàng năm bệnh sởi gây ra khoảng 2,6 triệu ca tử vong. Đến nay, sởi vẫn là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây dịch và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi. Năm 2010, trên thế giới cứ mỗi 4 phút có một người chết vì bệnh sởi. Tại Việt Nam, sởi là bệnh truyền nhiễm phổ biến mặc dù tỷ lệ mắc bệnh đã giảm mạnh so với trước khi triển khai vắc xin. Mù lòa, tiêu chảy cấp, viêm phổi, viêm não… là các biến chứng nguy hiểm sau mắc sởi có thể dẫn đến tàn phế, tử vong đặc biệt ở trẻ nhỏ, trẻ suy dinh dưỡng, mắc HIV/AIDS hoặc các bệnh suy giảm miễn dịch bẩm sinh. Mắc sởi khi mang thai có thể gây ra xảy thai, đẻ non.

2. Bệnh sởi lây truyền qua đường nào?

Bệnh sởi do vi rút sởi gây ra. Bệnh lây truyền qua đường hô hấp do ho, hắt hơi, tiếp xúc gần với người bị nhiễm hoặc dịch tiết mũi họng. Giai đoạn gây lây nhiễm xảy ra từ 4 ngày trước đến 4 ngày sau phát ban. Vi rút sởi lây lan mạnh trên diện rộng nên có thể gây dịch lớn. Một người mắc có thể gây lây nhiễm cho khoảng 20 người khác. Là bệnh lây nhiễm người – người. Không ghi nhận bệnh sởi ở động vật.

4. Những ai có nguy cơ mắc bệnh sởi?

Tất cả những người chưa có miễn dịch với sởi đều có nguy cơ mắc bệnh. Tại Việt Nam, nhóm có nguy cơ mắc sởi là (i) trẻ nhỏ do không còn miễn dịch từ mẹ truyền sang nhưng chưa được tiêm vắc xin (ii) trẻ đã tiêm vắc xin nhưng chưa có đáp ứng miễn dịch (iii) thanh niên do chưa từng mắc sởi hoặc tiêm vắc xin trước đây. Do vậy, các nhóm đối tượng này cần được bảo vệ bằng tiêm vắc xin sởi. Việc ngừng cung cấp dịch vụ tiêm chủng do bất kỳ nguyên nhân nào, sống ở nơi có mật độ dân số quá đông cũng là những yếu tố làm tăng cao nguy cơ mắc sởi.

5. Bệnh có biểu hiện như thế nào?

Trong vòng 7-21 ngày sau tiếp xúc, bệnh nhân có các triệu chứng sốt cao, ho, hắt hơi. Giai đoạn toàn phát, phát ban sẩn, mịn như nhung, không có nước. Ban mọc theo thứ tự từ đầu, cổ, thân mình rồi đến tay, chân. Ban bay theo trình tự như trên sau mắc sởi, do sức đề kháng của cơ thể suy giảm, bệnh nhân dễ bị biến chứng.

6. Chẩn đoán bệnh bằng phương pháp gì?

Chẩn đoán dựa vào xét nghiệm huyết thanh là phương pháp chính xác nhất. Cần lấy 3ml máu của bệnh nhân trong khoảng 28 ngày kể từ khi phát ban để tìm kháng thể IgM. Nếu kết quả dương tính chứng tỏ bệnh nhân đã mắc sởi. Bên cạnh đó, có thể chẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm sàng và các thông tin tiếp xúc với nguồn lây.

7. Làm thế nào để phòng bệnh sởi?

Tiêm vắc xin sởi là biện pháp tốt nhất chủ động phòng bệnh sởi. Khi có ca mắc sởi, cần cách ly bệnh nhân, hạn chế tiếp xúc đến 4 ngày sau khi phát ban. Tẩy trùng, thông thoáng nơi ở, làm việc. Khi có dịch, cần hạn chế tập trung đông người.

 

Bệnh viêm não Nhật Bản, dấu hiệu và hậu quả của biến chứng

Câu hỏi: Bệnh viêm não Nhật Bản là gì? Dấu hiệu của bệnh và những  biến chứng khi mắc bệnh là gì?

Trả lời:

Viêm não Nhật Bản (còn được gọi là viêm não mùa hè, viêm não B) là một bệnh nhiễm khuẩn thần kinh, có thể dẫn tới tình trạng tổn thương não vĩnh viễn, tỷ lệ tử vong rất cao.

Triệu chứng của bệnh.

Thời kỳ ủ bệnh là 1 – 6 ngày, ngắn nhất 24 giờ và có khi tới 14 ngày, thường ít có triệu chứng. Bệnh thường khởi phát đột ngột với các triệu chứng như sốt, đau đầu, buồn nôn và nôn. Sau đó sốt cao, co giật, co cứng cơ và lú lẫn.

Triệu chứng nổi bật trong giai đoạn toàn phát là những dấu hiệu ở màng não, não và rối loạn thần kinh thực vật. Đối với dấu hiệu màng não có 2 triệu chứng phổ biến là cứng gáy và dấu hiệu Kernig. Rối loạn vận động thể hiện trên nhiều mặt như co cứng cơ, co vặn, cơn quay mắt quay đầu, co giật, động cơn, run, liệt nửa người, mất vận động ngôn ngữ.

Các triệu chứng thần kinh thực vật rất đa dạng và nặng nề: nhiệt độ giao động, xanh tái, rối loạn hô hấp, tăng tiết đờm dãi, nhịp tim nhanh, chướng bụng, nôn, bí đại tiểu tiện và ngừng hô hấp đột ngột. Các triệu chứng tâm thần chủ yếu là rối loạn ý thức với các mức độ khác nhau từ u ám, ngủ gà đến hôn mê sâu.

Trong các trường hợp nặng tiến triển đến tử vong, thường thấy sốt trên 40 độ C kèm với các rối loạn thần kinh thực vật nặng nề. Tử vong thường xảy ra vào ngày thứ 3 đến thứ 8 của giai đoạn cấp. Với các bệnh nhi sống sót có thể để lại các di chứng thần kinh tâm thần.

Biến chứng của bệnh

Viêm não Nhật Bản là một trong những bệnh để lại di chứng đặc biệt nặng nề. Bệnh gây tử vong cao (10-20%) hoặc di chứng thần kinh lớn như động kinh, giảm học lực, đần độn, liệt, thất ngôn. Các di chứng thần kinh như vậy thường chiếm hơn 50% người mắc bệnh, thường gây tàn phế, mất khả năng lao động, để lại gánh nặng cho gia đình và xã hội.